Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2015

NGÀY ẤY CHƯA XA

      Tác giả: Nguyễn Hữu Nghị
        Khoa Văn hóa Ngoại ngữ
 Với kinh nghiệm gần 20 năm làm công tác giảng dạy, khoác trên mình bộ quân phục, tôi luôn tự hào mình là “thầy giáo – chiến sĩ”, bây giờ đã được coi là “lão làng” trong con mắt các giảng viên trẻ của Khoa Văn hóa Ngoại ngữ. Ấy vậy mà mỗi lần ngồi phía cuối lớp dự giờ, kiểm tra giảng những tiết lên lớp đầu tiên của các giảng viên trẻ mới về Khoa công tác, trong lòng tôi vẫn dấy lên cảm xúc bồi hồi, khó tả. Dường như khi tôi lắng nghe, chăm chú theo dõi những gương mặt tươi trẻ căng tràn nhiệt huyết ấy, tôi lại bắt gặp hình ảnh của chính mình gần 20 năm về trước của một kỷ niệm luôn sống mãi trong tôi: buổi lên lớp đầu tiên trước đối tượng học viên hoàn thiện cao đẳng 18 tháng những năm 1996- 1998.
       Tốt nghiệp Khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1995, đáng lí ra tôi phải là thầy giáo

của những cô cậu cấp 3 mới đúng, vậy mà cơ duyên lại đưa cuộc đời tôi trở thành người “lái đò” của những sinh viên mặc áo lính. Vẫn ngày ngày lên lớp với bảng, phấn, nhưng đối tượng thì hoàn toàn khác với những gì tôi hình dung trước khi vào quân ngũ. Không phải là những cô cậu học trò tuổi mới lớn hồn nhiên, trong trẻo, tinh nghịch chỉ nhường lại hai vị trí đầu cho “nhất quỷ nhì ma”.

       Sau những tuần đầu bỡ ngỡ, tôi đã từng bước thích nghi, hòa nhập với đặc thù công việc, được Thủ trưởng Khoa cho “thử sức” trước các đối tượng học viên.
       Trung tuần tháng 11 năm 1998, tôi được Thủ trưởng giao nhiệm vụ huấn luyện mới: tham gia giảng dạy 2 lớp hoàn thiện cao đẳng 18 tháng. Đối tượng học viên của 2 lớp này, đa phần là những cán bộ đã trải qua thực tế công tác nhiều năm, quân hàm từ Thượng úy đến Thượng tá, trải qua các cương vị khác nhau, tuổi thanh xuân đã nhiệt thành cống hiến cho đất nước và mới chỉ học qua các lớp sơ cấp, trung cấp nay mới có điều kiện để học tiếp. Về tuổi tác, họ đáng bậc cha chú của tôi; về kinh nghiệm thực tiễn, họ giàu vốn sống và trải nghiệm, nhiều đồng chí trong lớp có lẽ tuổi quân còn nhiều hơn tuổi đời của tôi. Nhận nhiệm vụ, tôi mang tâm trạng bất an với cảm giác lo lắng dường như có một áp lực vô hình đang đè nặng, liệu mình có đủ tự tin, bản lĩnh để hoàn thành nhiệm vụ trong khi chỉ có bầu nhiệt huyết tuổi trẻ và kinh nghiệm giảng dạy hơn một  năm.     
       Đêm trước hôm lên lớp, mặc dù đã chuẩn bị hồ sơ giáo án đầy đủ, đã tập giảng, thông qua bài khá trơn tru ở Khoa nhưng sao vẫn thấy chộn rộn trong lòng, một cảm giác hồi hộp, lo âu, thắp thỏm – một tâm trạng khó diễn đạt thành lời. Tôi vốn là người rất dễ ngủ, vậy mà không sao chợp mắt được. Cứ nhắm mắt vào là những dòng giáo án, những tình huống sư phạm của bài giảng ngày mai lại hiện lên trong tâm trí tôi, tiến trình bài giảng như được tua lại nhiều lần…Tôi chỉ mong sao cho trời chóng sáng để được lên lớp “công diễn” với không nhiều tự tin.
       6g30 phút, vào lớp, tôi bước lên bục giảng với tâm trạng khá hồi hộp, trống ngực đập thình thịch, nhịp tim có lẽ phải lên đến 150 lần/phút. Tôi đưa mắt nhìn một lượt xuống lớp học với những ấn tượng mạnh: 2/3 học viên trong lớp đeo kính lão, đa số mái đầu điểm bạc và quân hàm thấp nhất là Thượng úy…Mất mấy phút sau tôi mới lấy lại được cảm giác thăng bằng. Sau vài lời giới thiệu làm quen của buổi đầu lên lớp, tôi nghe có tiếng xì xào: “thầy giáo trẻ thế, hơn con gái út của tôi một tuổi”tôi làm như không nghe thấy và bắt đầu bài giảng. Tiết đầu tiên của chủ đề 3 học phần Lịch sử dân tộc: “Khái quát lịch sử văn hóa Việt Nam” chủ yếu là giải quyết các khái niệm văn hóa, văn minh, văn hóa học, cơ sở văn hóa, bản sắc văn hóa, văn hóa cổ truyền…có những khái niệm rất trừu tượng, không dễ cắt nghĩa, nhất là phải lấy ví dụ thực tiễn để minh chứng, mà tôi thì vốn sống, kinh nghiệm thực tiễn còn ít ỏi. Một số học viên trong lớp còn kiểm tra kiến thức của thầy giáo trẻ bằng cách đưa ra một số câu hỏi có thể không khó nhưng mang yếu tố bất ngờ như “Nhờ thầy giải thích cho ‎ý nghĩa của nhà mồ, tượng nhà mồ và lễ bỏ mả của một số dân tộc ở Tây Nguyên”; “Vì sao trong thế giới hiện đại khoa học kỹ thuật phát triển, con người có sự hiểu biết sâu sắc về thế giới nhưng dòng người gia nhập các tôn giáo vẫn không ngừng gia tăng?”…Trong những trường hợp này, đối với đa số giáo viên trẻ nếu không bình tĩnh xử l‎ý các tình huống “phát sinh ngoài kịch bản” sẽ “toát mồ hôi hột”, loay hoay, dẫn tới cháy giáo án và có thể tiết học sẽ đi theo một hướng rất khác. Tôi thầm nghĩ, mình sẽ biến thách thức này thành cơ hội để khẳng định thương hiệu của Khoa Văn hóa Ngoại ngữ, thương hiệu của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trước khi trả lời câu hỏi của các đồng chí học viên, tôi thường đặt các câu hỏi ngược lại để cả lớp cùng suy nghĩ, trả lời như: “các đồng chí có biết điểm khác nhau về của đồ cúng của đồng bào Tây nguyên trong lễ Bỏ mả với đồ cúng của đồng bào Kinh?”; “Mối liên hệ giữa người sống và người chết trước và sau khi làm lễ Bỏ mả”; “Những áp lực của cuộc sống hiện đại và nhu cầu tinh thần của con người?”…rồi tôi cố gắng vận dụng kiến thức, khả năng diễn đạt để làm sao có câu trả lời thuyết phục nhất trước cả lớp. Tiết học trở nên sôi nổi, khoảng cách tuổi tác giữa giáo viên và học viên dường như không còn nữa, tôi đã cảm nhận được những ánh mắt hài lòng, thân thiện, thái độ tôn trọng của lớp học.
       Giờ học kết thúc. Tôi thở phào nhẹ nhõm, một cảm giác sảng khoái, nhẹ nhõm ngập tràn, những lo lắng, mệt mỏi bởi một đêm mất ngủ dường như tan biến. Về đến Khoa, đồng chí Chủ nhiệm Khoa bắt tay thân mật hỏi “Thế nào? Hôm nay dạy ổn chứ”, tôi đứng nghiêm giơ tay thực hiện động tác chào: “Báo cáo Thủ trưởng, tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ!”.
 


Tiếp Bước

Trịnh Trọng Tuân
 Kính tặng chú Đỗ Xuân Cường 
Chú Đỗ Xuân Cường là chiến sĩ dũng cảm đã trình bày phương án và tham gia “mở đường máu” tại trận quyết chiến Phước Yên của K8 vào tháng 4/1968. K8 ngày đó tức Trung đoàn BB38 ngày nay. 
Bài thơ được viết để tặng chú Cường cùng những người lính trở lại thăm Trung đoàn nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Trung đoàn BB38 “Đoàn Gio An anh hùng” (20/9/1954 – 20/9/2014).


Chú Cường ơi!
60 năm một chặng đường lịch sử
Trung đoàn xây dựng, chiến đấu, trưởng thành
Là mồi hôi, nước mắt và máu xương
Của biết bao Anh hùng như các chú
Đã hi sinh cho tự do dân tộc
Cho hạnh phúc, ấm no triệu triệu đồng bào
Cho chúng cháu có được lòng tự hào
Những người lính hôm nay
Viết tiếp chiến công trang sử oai hùng     
Chắc tay súng nguyện bước theo cờ Đảng
Quyết một lòng vì Tổ quốc, Nhân dân
Để xứng đáng người quân nhân cách mạng
Người Chiến sĩ Gio An “dũng cảm”, “kiên cường”.
                                                                  
                                                                             Tháng 8 năm 2014

KỶ NIỆM VỀ MỘT HỘI THI

Tác giả:  Nguyễn Hữu Nghị 
Khoa Văn hóa Ngoại ngữ
 Ai trong mỗi chúng ta cũng mang trong mình những kỷ niệm, hoài bão khó phôi phai trong cuộc đời. Tôi cũng đã có ngót 20 năm quân ngũ, kỷ niệm khó quên nhất, ấn tượng nhất có lẽ là: “Hội thi Giáo viên giỏi toàn quân các học viện, nhà trường đào tạo bậc đại học năm 2001” được tổ chức tại Trường Sĩ quan Lục quân 1 với biết bao niềm vui, sự luyến tiếc cứ đan xen vào nhau để rồi mỗi khi nhớ lại, như vừa mới hôm qua.

      Là một giảng viên của Trường Sĩ quan Chính trị, nhưng tôi từ một sinh viên tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, được tuyển vào Khoa Văn hóa Ngoại ngữ,  từ đầu năm 1996. Được sống và làm việc trong môi trường binh nghiệp là niềm tự hào của bản thân, vì thế mà lúc nào tôi cũng luôn luôn tâm niệm phải nỗ lực rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Nhưng không phải công việc nào cứ hạ quyết tâm là sẽ hoàn thành tốt vì đường bước tới đài vinh quang đâu chỉ có hoa hồng trải rộng mà là sự lao tâm khổ tứ, rèn đức, luyện tài không ngừng mệt mỏi. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ y nguyên cái cảm giác hôm được đồng chí Nguyễn Văn Phú nguyên Chủ nhiệm khoa và đồng chí Bí thư Chi bộ Nguyễn Đắc Trục giao nhiệm vụ. Với vẻ cương nghị trên khuôn mặt của hai Thủ trưởng, tôi khó có thể đoán được đó là nhiệm vụ gì. Dường như thấy được sự lo lắng của tôi, không để chờ đợi lâu, đồng chí Chủ nhiệm Khoa vỗ vai tôi nói: “sắp tới đồng chí sẽ cùng 5 giáo viên khác của Nhà trường tham dự Hội thi Giáo viên giỏi toàn quân tổ chức tại Trường Sĩ quan Lục quân 1. Đây là một vinh dự lớn, thành công của đồng chí chính là đem lại vinh quang cho tập thể Khoa nói riêng và Nhà trường nói chung nhưng nhiệm vụ này cũng rất nặng nề”. Từ phòng Thủ trưởng về, trong lòng tôi  biết bao cảm xúc  cứ đan xen với nhau: vui thì ít, lo lắng thì nhiều. Vui vì mình đã được Thủ trưởng Nhà trường, Thủ trưởng Khoa tin tưởng vào năng lực công tác của mình, nhưng lo lắng liệu mình có thể hoàn thành tốt trọng trách này hay không?
       Tại thời điểm ấy – năm 2001, tôi vừa được vinh thăng quân hàm Thượng úy, với tuổi nghề và tuổi quân  vẻn vẹn 6 năm, kinh nghiệm công tác chưa nhiều. So với 5 đồng chí trong đội tuyển, họ được xem là những “cây đa, cây đề” và đều có quân hàm cấp  Tá với nhiều kinh nghiệm đứng trên bục giảng, tuổi nghề có đồng chí  gần bằng với tuổi đời của tôi, nhiều năm liền là giáo viên giỏi cấp Trường, nên họ có rất tự tin và đầy kinh nghiệm. bản lĩnh. Chỉ cần làm phép so sánh với các đồng chí trong đội tuyển của Trường, chứ chưa nói gì tới các học viện, nhà trường đào tạo bậc đại học trong toàn quân, tôi mới thấy mình nhỏ bé nhường nào, vậy mà phải đối mặt với cuộc thi lớn mang tầm cỡ toàn quân, chỉ nghe thế thôi mà đã “toát mồ hôi”. Nhưng với quyết tâm của tuổi trẻ, nghị lực, ý chí của bản thân, tôi  nghĩ mình phải nỗ lực, nỗ lực nhiều hơn nữa để hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc mà cấp trên đã tin tưởng giao phó.
       Hội thi Giáo viên giỏi năm ấy, các thi sinh phải trải qua 6 nội dung đua tài bắt buộc: Thi giảng chuyên ngành, thi thực hành Tin học, thi ngoại ngữ (riêng môn này được đăng ký theo sở trường của cá nhân), thi Điều lệnh đội ngũ, Điều lệnh quản lý bộ đội, thi hiểu biết về kiến thức xã hội và môn bắn súng ngắn K54 bài 2. Đối với tôi, 6 nội dung dự thi thì môn chuyên ngành và ngoại ngữ là ít phải lo hơn cả, nhưng không vì thế mà được chủ quan. Các môn còn lại quả thật là rất khó, kiến thức rộng lại không phải là sở trường của mình. Vì vậy từng nội dung thi tôi phải sắp xếp lịch tự ôn tập thật khoa học ngoài những giờ ôn luyện tập chung do Nhà trường tổ chức.
       Với sự quan tâm của Nhà trường dành cho Đội tuyển, mặc dù chỉ có mình tôi đăng ký dự thi môn Tiếng Nga, nhưng Thủ trưởng Nhà trường chỉ đạo vẫn phải tổ chức một lớp ôn luyện dành riêng cho tôi dưới sự huấn luyện của thầy Bạch Thái Cường (nguyên Chủ nhiệm bộ môn Ngoại ngữ). Một thầy - một trò, nên rất nhiều thuận lợi, thầy đã mang hết tâm huyết và nhiệt tình để bồi dưỡng kiến thức. Phải nói rằng sau 6 năm không sử dụng đến ngoại ngữ, nhưng vốn từ vựng của tôi gần như không hề rơi rụng, cốt lõi bây giờ là phải nắm chắc cấu trúc ngữ pháp và phát âm. Thầy đã dạy cho tôi rất tỉ mỉ về giới từ, chuyển đổi các cách đến bộ phận nòng cốt của câu, nhờ đó mà tôi dịch rất hay những mẩu truyện ngắn, viết những đoạn văn theo chủ đề thầy giao tràn đầy cảm xúc. Chỉ sau một thời gian ngắn huấn luyện tôi có thể trò chuyện được với thầy bằng vốn ngoại ngữ của mình. Hễ cứ gặp nhau là thầy trò lại nói bằng tiếng Nga. Vì thế mà tôi đã yên tâm phần nào cho môn thi này. Đây cũng là điều hết sức thuận lợi để năm 2003, tôi tự tin dự kỳ thi tuyển sinh sau đại học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trong khi rất nhiều thí sinh dự thi sợ trượt môn ngoại ngữ.
       1/3 số môn dự Hội thi Giáo viên giỏi đã phần nào được giải tỏa tâm lý. Còn lại 2/3 số môn, lại là những môn khó tôi phải dành nhiều thời gian và công sức. Tôi luôn tâm niệm, môn càng khó thì không được ngại học, sợ học mà càng phải quyết tâm cao độ, đấy chính là môn Điều lệnh đội ngũ, được thầy đánh giá “yếu nhất đội”. Thực tế tôi vốn không được đào tạo từ các trường quân đội nên với tôi môn này là “sở đoản”. Đã thế, môn học đòi hỏi người học khi thực hành phải thể hiện động tác chính xác, khỏe khoắn, khẩu khí to, rõ, dứt khoát. Đã có lúc tôi tự động viên  mình “chỉ có hô và thực hành động tác thôi” tại sao lại không làm được. Thế là ngay cả những ngày cuối tuần được nghỉ, tranh thủ về thăm vợ con, nhà tôi ở trong khu tập thể một trường THCS cách trường 40 km, tận dụng sân trường cuối tuần vắng vẻ  - đây là một không gian lý tưởng tôi quyết tâm luyện tập. Tôi tưởng tượng mình đang chỉ huy một đơn vị vừa tập hô khẩu lệnh vừa rèn luyện động tác sao cho thật thuần thục. Buồn cười nhất là những lúc đang tập, quay lại thì thấy phía đằng sau có khá nhiều người lớn và cả trẻ em đứng xem, họ không hiểu tôi đang làm điều gì kỳ quặc, mặt tôi đỏ bừng lên, cả người nóng ran. Vậy mà thật ấn tượng làm sao, kết quả môn Điều lệnh của tôi thuộc tốp cao của Hội thi, điều này hết sức bất ngờ với tôi và các thành viên trong đoàn dự thi của Trường Sĩ quan Chính trị.
       Môn bắn súng cũng không kém phần gay cấn, mặc dù đây là môn học ai cũng thích vì nó khá thoải mái về tinh thần. Trước khi thi, chúng tôi có tới 12 buổi thực hành tập bắn, mỗi người được giao một khẩu K54 trong suốt quá trình luyện tập, trung bình mỗi buổi tập mỗi người bắn khoảng 50 viên đạn, tổng cộng 12 buổi là 600 viên. Nhớ lại những buổi ra thao trường, với cái nắng nóng như đổ lửa, mồ hôi ai cũng vã ra như tắm, nước uống bao nhiêu cũng không thoả mãn cơn khát. Khuôn mặt ai cũng sạm lại vì nắng gió thao trường nhưng lại rất rắn rỏi, tự tin. Hiểu rõ những khó khăn ấy, Nhà trường luôn  tạo điều kiện tốt nhất cho anh em chúng tôi cả về vật chất lẫn tinh thần:  xe đưa đón thuận tiện, nước uống, khẩu phần ăn trưa phải đảm bảo dinh dưỡng, ngon miệng, vì thế mỗi chúng tôi ai cũng tự nhủ phải cố gắng, cố gắng nhiều hơn nữa.
    Trong số các môn dự thi có lẽ ấn tượng nhất trong tôi phải kể đến đó là môn: “hiểu biết về kiến thức xã hội” – đây là thế mạnh của Trường Sĩ quan Chính trị. Tôi luôn ý thức được trách nhiệm của mình là phải hoàn thành xuất sắc bài thi môn này, quyết tâm trả lời vừa thuyết phục vừa thật ấn tượng đối với ban giám khảo. Nhưng kho tri thức rộng mênh mông như biển cả mà sự hiểu biết của con người chỉ là hạt muối giữa đại dương. Song tôi khá tự tin vào sự chuẩn bị của mình. Với nội dung này chúng tôi phải thi vấn đáp, bốc thăm câu hỏi ngẫu nhiên và cái khó là sau khi nhận câu hỏi phải trả lời ngay mà không có thời gian chuẩn bị, nên đa số các thí sinh có tâm lí rất hồi hộp và lo lắng. Tâm trạng tôi cũng giống như bao đồng chí khác, khi gọi đến tên mình, tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, không biết sẽ nhận nội dung gì. Mặc dù đã có 6 năm  đứng trên bục giảng, nhưng tâm trạng của tôi lúc này chẳng khác nào cậu học sinh lần đầu đi thi. Nhưng khi có câu hỏi trong tay, tôi lấy lại bình tĩnh và trả lời rành rọt, lưu loát cả câu hỏi chính lẫn câu hỏi phụ ban giám khảo đưa ra. Hoàn thành bài thi , tôi cảm nhận được vẻ hài lòng từ tất cả các vị giám khảo. Kết quả môn thi Hiểu biết tôi đã đạt điểm “thủ khoa” ở bàn thi.    
      Niềm vui nối tiếp niềm vui, từ những môn mà tôi được đánh giá là “yếu nhất đoàn”môn mà mọi người lo cho tôi  thì tôi lại giành được ưu thế. Đây là động lực để tiếp thêm sức mạnh cho tôi ở bài thi bắn súng. Trước môn thi cuối cùng (môn bắn súng) thì Trường Sĩ quan Chính trị chỉ còn lại 2/6 đồng chí là tôi và Trung tá Nguyễn Đắc Ngọt có điểm các môn thi đều đạt kết quả từ 8,6 trở lên – đây là điều kiện bắt buộc để đạt danh hiệu “giáo viên giỏi toàn năng toàn quân” với điều kiện nếu hoàn thành bài thi bắn súng kết quả khá trở lên. Lúc này chúng tôi nhận được rất nhiều lời động viên, khích lệ cũng như sự kỳ vọng của đoàn.
      Bước vào môn thi cuối cùng - môn bắn súng ngắn K54 bài 2, đây là môn thi khó, ngay cả những người bắn giỏi cũng không thể nói trước rằng mình sẽ hoàn thành xuất sắc bài thi. Lần đầu tiên tôi được bắn súng K 54 trước một Hội đồng Giám khảo cấp Bộ nên trong tôi không khỏi bồi hồi, lo lắng. Một cảm giác trong tôi thật khó tả: tôi chỉ mong sao trời chóng sáng để được cầm súng tự tin mà ngắm bắn. Nhưng lúc này đồng hồ mới chỉ đến số 12, rồi 1 giờ… 2 giờ…tôi vẫn không sao thiếp đi được. Vậy là chỉ còn mấy tiếng nữa thôi, môn thi cuối cùng sẽ kết thúc, đường lên đỉnh Olimpia thì dường như gần lắm rồi. Ai? Ai sẽ là người đầu tiên chinh phục đỉnh Olimpia. Suy nghĩ miên man đến gần 3 giờ sáng tôi mới chìm vào giấc ngủ.
      8 giờ sáng của buổi thi cuối cùng bắt đầu, khác với những buổi tập ngoài thao trường, hôm nay không phải là cái nắng cháy da cháy thịt mà là tiết trời thu nắng nhẹ, dường như thời tiết cũng chiều lòng người. Nghe hiệu lệnh gọi, tôi bình tĩnh, tự tin nhận súng vào vị trí. Nghe dứt hiệu lệnh, tôi nhanh chóng thực hiện yếu lĩnh động tác, bóp cò ở cự ly 50 m, bia không đổ, lòng tự nhủ sẽ quyết tâm ở cự ly 35m, lại bình tĩnh ngắm bắn, bóp cò, bia vẫn không đổ. Trong lòng tôi đôi chút dao động, lúc này chỉ còn một viên đạn ở cự ly bắn cuối cùng: 25m, bia hiện ra rất gần và rõ. Tôi lại nheo mắt ngắm bắn, bia đã đổ nhưng với cự ly này người bắn chỉ đạt yêu cầu đồng nghĩa với kết quả tôi chỉ đạt danh hiệu “Giáo viên dạy giỏi chuyên ngành cấp Bộ” chứ không phải danh hiệu “Giáo viên giỏi toàn năng toàn quân”. Lòng buồn bã tôi rời vị trí bắn, đồng chí trưởng đoàn cùng đồng đội đã động viên tôi rất nhiều nhưng nỗi buồn này thật khó nguôi ngoai.
       Hội thi  khép lại, mặc dù 6 đồng chí chúng tôi đều đạt danh hiệu: “Giáo viên dạy giỏi chuyên ngành cấp Bộ”, nhưng trong lòng mỗi chúng tôi đều cùng chung một tâm trạng: niềm vui xen lẫn nỗi buồn và cả sự luyến tiếc. Giá như mình có bản lĩnh hơn. Giá như mình có nhiều kinh nghiệm hơn nữa. Giá như…giá như…Biết bao nhiêu cái giá như cứ hiện hữu, để rồi mỗi khi ngẫm lại, lại tìm thấy bài học mới.
      Mọi điều tưởng như vừa mới hôm qua thôi, thế mà đã gần 15 năm rồi kể từ Hội thi ấy, anh chàng Thượng uý năm xưa nay đã mang quân hàm Trung tá với cương vị Phó chủ nhiệm Khoa, nhớ về những ngày tháng ấy, trong tôi vẫn nguyên vẹn nhiệt huyết của ngày nào. Giờ đây, nếu cho tôi một điều ước, tôi sẽ ước mình lại được đứng trong đội tuyển năm xưa để lại có thêm một cơ hội chinh phục đỉnh cao tri thức, có thêm  kinh nghiệm được học hỏi đồng nghiệp các trường bạn trong toàn quân.
       15 năm đã trôi qua, nhớ lại Hội thi ấy tôi thầm nhủ: thành công của mỗi con người ít ai mà không trải qua thất bại, nhưng “thất bại là mẹ thành công” điều quan trọng là phải lạc quan, tin tưởng, biết ngẩng cao đầu nhìn về phía trước để phấn đấu vươn lên.  


Ký ức

* Ngô Xuân Trường- Khoa Văn hóa, Ngoại ngữ     
         Nhân vật: 
- Đại tá Hoài: Bí thưchi bộ- phó Chủ nhiệm khoa
- Thiếu tá Niệm: Tổ trưởng đảng - Chủ nhiệm bộ môn
- 2 Học viên: Nhớ - Thương
 (Tại phòng làm việc của bộ môn vào ngày nghỉ, không gian im lặng), (cảnh trí: có bàn ghế, ấm chén, phích, có bàn làm việc trên bàn có vài quyển vở).
              Niệm: (Đi vào): Lạ thật…! Hôm nay ngày nghỉ, ai vào mở cửa mà cấm thấy người đâu… chẳng lẽ chiều qua về mọi người quên khóa cửa.
          (Ra đứng ở bàn làm việc vừa dở sách vừa ngêu ngao hát) "Ngời sáng CN Mác Lê nin… Ngời sáng tư tưởng Hồ Chí Minh…Đưa cách mạng Việt Nam… tiến tới thành công… là la lá la … là la lá la…
          Tình tinh tính tinh… tình tinh tính tinh.
Hoài: (Đi vào): Niệm đấy à… Hôm trước cậu đăng ký đi tranh thủ về quê, sao giờ này vẫn đây?
Niệm: Anh à! tuần này em định về nhà, mấy tuần  không về rồi nhưng còn bài hội thảo Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 em viết rồi nhưng cảm thấy chưa ưng lắm đang tranh thủ sửa lại. Và em cũng hẹn mấy cậu học viên lên trao đổi cái đề tài khoa học mà em hướng dẫn anh ạ… Anh vào từ bao giờ?

Hoài:Mình vào được một lúc rồi.
Niệm: Tổ chức hội thảo Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 kỷ niệm 40 năm Chiến dịch Hồ Chí Minh nên các bài tham luận phải viết cẩn thận tí anh ạ. Chúng em không được trực tiếp tham gia chỉ nghe qua đài, báo và phim nên khó viết ra phết anh ạ.
Hoài: Ừ! Thông qua các bài tham luận trong hội thảo để giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần chiến đấu ngoan cường của quân và dân ta, nên cũng cần có những kiến thức, và tư liệu thì bài viết mới có sức thuyết phục.
Niệm: Vâng em cũng nghĩ vậy, nên cứ lăn tăn mãi.  Mà ngày nghỉ anh vào có việc gì đấy?
Hoài: Ừ mình vào có tý việc... Niệm này, tớ đố cậu biết buồng chuối kia có bao
           nhiêu nải?
Niệm:Cái buồng chuối ở cạnh nhà tắm của khoa ta chứ gì?… Buồng ấy… giỏi lắm thì 10 nải chứ mấy.
Hoài:Sai, sai bét! 18 nải đấy cậu ạ.
          Cậu thấy không, đúng là cái anh phân lân nung chảy tốt ra phết… quả to… đều… trông như chuối vẽ.
Niệm:Trời ạ, anh lại vào chăm mấy cây chuối chứ gì, đúng là…trẻ trồng na, già trồng chuối!
Hoài:Cậu nói đúng! đó là quy luật của cuộc sống… con người sinh ra, già đi, bệnh rồi chết, đúng là sinh - lão - bệnh - tử. Già thì phải nghỉ, rồi cũng phải chết chứ ai sống mãi được. Đã đến tuổi nhà nước cho nghỉ nghĩa là sức khoẻ giảm sút rồi, trình độ năng lực thì có hạn nghỉ là lẽ đương nhiên tre già thì măng mọc mà.
Niệm:Kìa anh… em xin lỗi… em không có ý gì đâu, chỉ là câu cửa miệng thôi mà.
Hoài: Không… có sao đâu… mà cậu nói đúng lúc lắm. Tớ có chuyện này cũng muốn tâm sự, nhưng không  biết bắt đầu từ đâu…
Niệm:Có chuyện gì hả anh? Mà trông anh dạo này thần sắc không được tốt. Các anh có tuổi rồi mà vẫn phải làm việc suốt ngày, nào thì chỉ đạo điều hành huấn luyện, duy trì hành chính quân sự, nào thì họp hành, giao ban, nào thì đề tài khoa học các cấp rồi vẫn phải đề tài cá nhân nữa chứ.
Hoài:Ừ, tuy có mệt nhưng cũng thấy vui cậu ạ, bọn mình mà ngày nào không có việc cũng thấy buồn. Có việc làm cảm thấy thời gian đỡ tẻ nhạt hơn.
Niệm:Anh ngồi đây, em pha ấm  trà anh em mình cùng uống.
Hoài: Cậu cứ pha mà uống, tớ lâu lắm có uống trà khô này đâu, chỉ uống trà xanh thôi.
Niệm:Vâng!..về ở với anh chưa được lâu nhưng  em biết chứ!
Hoài:Niệm này! mấy hôm nay lên lớp, đứng trước học viên thấy những cặp mắt chăm chú nghe giảng của học viên mình thấy thật hạnh phúc.
          Nhưng, không biết vì sao dạo này mình hay nghĩ về quá khứ thế, cứ nằm nghỉ là nghĩ về cảnh chiến trường ngày xưa.
Niệm:Anh nói sao? em không hiểu! có chuyện gì hả anh?
Hoài:Ừ! Nói sao nhỉ?   (Nhạc trầm  hùng).
          Mới hôm nào… là chàng trai 18 tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, gác bút nghiên lên đường đánh giặc.
          Sau 3 tháng huấn luyện… thế là hành quân đi miết… ngày nghỉ, đêm đi… hàng tháng ròng. Vào đến chiến trường Quảng Trị… nơi kẻ thù đặt cho cái tên: "Vùng đối đầu lịch sử" bắt đầu làm quen cơm vắt, ngủ hầm, đào hào vây lấn. Từ một anh thư sinh trở thành một chàng lính trẻ… rồi những đêm sốt rét trong rừng, những ngày đói bấm lòng chờ giặc tới.
          Cậu biết không!
Niệm:Sao hả anh?
Hoài:Hồi ở nhà… bọn con gái làng ghen với làn da trắng như trứng gà bóc của mình, nhìn mà thích. Vào chiến trường, lần đầu giáp mặt với quân thù dầm ra quần lúc nào không hay.
          Ấy vậy mà chỉ sau vài trận sốt rét da thì mái, môi thì thâm, nhưng được cái trong mưa bom bão đạn suốt 81 ngày đêm thành cổ, mình vẫn trụ vững… không mảy may sứt sát gì.
          (Nhạc buồn…)
          Trong khi đó đã có  biết bao đồng đội ngã xuống, khi tuổi còn rất trẻ… phải nằm lại nơi núi rừng…
Niệm:Thời các anh cả nước lên đường, cả dân tộc ra trận…
Hoài:Không hẳn vậy đâu …
          Cũng có người hiên ngang ra trận, anh dũng hy sinh với niềm tin thắng giặc, nhưng cũng có kẻ tham sống sợ chết, lẩn trốn, đảo ngũ, trốn tránh trách nhiệm với dân tộc.
Niệm:Vâng… chính niềm tin đã làm nên một kỳ tích của dân tộc…
          (Nhạc hào hùng)
Hoài:Sau đó mình tham gia đánh cửa Việt: 1973, Thượng Đức 74 và cùng đoàn quân hành quân thần tốc tiến vào dinh lũy cuối cùng của Mỹ trưa 30/4.
          Sau chiến dịch, mình được cử về SQ CT học… ngày ra trường lại tham gia
chiến dịch biên giới Tây Nam.
          Đúng là lịch sử của dân tộc ta là lịch sử của quá trình chống giặc ngoại xâm.
Niệm: Chuyện của anh hôm nay em mới được nghe… Nhưng tại sao hôm nay
           anh lại nhớ lại ký ức như vậy.
Hoài:Niệm ạ… trong cuộc sống… ít ai tự nói về mình.
          Nhưng mình phải biết mình là ai, biết mình đang ở đâu.
          Tớ nghĩ… bọn tớ quá độ rồi, không được đào tạo cơ bản như các cậu hiện nay. Vậy mình nghĩ nên rút về hậu trường, để vị trí này cho các cậu mới đúng. Vì thời đại này là thời đại của khoa học công nghệ rồi, chứ thứ chủ nghĩa kinh nghiệm như bọn mình không còn phù hợp nữa…
Niệm: Anh nói vậy chứ bọn em còn phải học các anh nhiều, nhất là vốn sống, kinh nghiệm.
          À … thế còn một bí mật của anh nữa… thấy các anh kể lại… em chưa rõ… anh hay uống chè xanh… mà phải là chè quê anh…
Hoài: Ừ! Tốt nghiệp SQCT… được nghỉ 15 ngày phép về quê… các cụ đã dạm sẵn cho một cô giáo trường làng, thế là cưới, sau 5 ngày mình lên đường.
          Trước hôm đi các cụ trong làng đến chia tay… vợ nấu nồi nước chè xanh mời các cụ, rồi đưa cho mình một bát chè xanh nóng và nói: Anh uống đi, không đâu chè xanh ngon bằng chè quê mình, vừa xanh nước, vừa đượm tình.
             Ở quê mình cứ vào buổi trưa hè các gia đình nấu chè xanh gọi nhau sang cùng uống, vậy mới có câu "trưa nắng hè gọi nhau dâm dan chè xanh".
          Sáng hôm sau trước khi đưa mình ra tàu đi nhận nhịêm vụ mới, vợ đưa cho mình một cuốn sổ tay, dở trang đầu là dòng chữ của một cô giáo trường làng, có đoạn viết:
                             Ngày mai anh lên đường
                             Lòng em dõi theo anh
Hương vị nước chè xanh
Theo anh ra mặt trận
Dẫu đợi tháng, đợi năm
Em tin ngày chiến thắng
Giặc tan anh trở về
Chè quê đượm mời anh.
Những câu này viết mộc mạc… giản dị thôi… mà chất chứa tình yêu thương… chất chứa niềm hạnh phúc; nói lên sự đợi chờ, niềm tin thắng trận của những người vợ khi chồng đi chiến đấu.
Niệm:À… vậy là những suy tư… những trăn trở của anh hiện về từ ký ức.
Hoài:Nhất là khi các cháu học xong đi làm, ở nhà còn mỗi mình bà xã.
Niệm: Nhưng bây giờ 2 cháu đã trưởng thành, đã tự lập cuộc sống.
Hoài:Chính vì vậy mình mới thấy thương bà xã mình suốt đời lầm lũi, tần tảo một mình nuôi con, cho đến giờ chưa được hưởng hạnh phúc trọn vẹn.
Quá nửa đời người trong quân ngũ… hơn 20 năm đứng trên bục giảng… Mình cảm thấy không hổ thẹn với những gì mình đã làm. Xong cứ nghĩ lại càng thấy thương bà xã, hơn 30 năm cuộc sống vợ chồng mà chẳng mấy khi được gần nhau, chẳng giúp được gì cho bà ấy.
Nhớ & Thương: (Bước vào, cả 2 đồng thanh) Em chào 2 thầy ạ!
Niệm:Các em đến từ khi nào vậy?
Nhớ:Dạ… thưa…
Thương:Thưa thầy em đến từ ban nãy…
Niệm:Vậy là… các em đã…
Thương:Chúng em xin lỗi 2 thầy, lẽ ra chúng em không…
Hoài:Kìa… không sao… vào đây…
          Nhớ lần sau đã đến theo hẹn thì vào, nay mai ra trường làm cán bộ chính trị  mà rụt rè thế là không được đâu.
Nhớ:Nhưng bọn em sợ làm cắt đứt mạch tâm sự của 2 thầy, qua được nghe những điều 2 thầy tâm sự, chúng em rút ra 1 điều, trong công việc luôn phải có nghị lực và niềm tin . Các thầy là những tấm gương chúng em phải học tập
Hoài:Em nói đúng… làm gì cũng phải có niềm tin, nếu không có niềm tin sẽ không làm được gì cả.
          À… thế có phải 2 em lên để thầy Niệm  hướng dẫn nghiên cứu khoa học có phải không?
Nhớ và Thương: Dạ… vâng ạ!
Niệm: Báo cáo anh… đây  là 2 cậu em hướng dẫn nghiên cứu khoa học đấy anh ạ!
Hoài:Tốt lắm!
          Các em định viết về đề tài gì?
Nhớ:Thưa thầy chúng em định viết về vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho học viên đào tạo chính trị viên ở Trường ta thầy ạ.
Hoài:Hay lắm, đề tài này theo mình nghĩ rất hay, đúng vào lúc cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đang được tổ chức sâu rộng trong toàn quân, lại gắn với việc Nhà trường đang triển khai gặp mặt, tôn vinh những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh lại càng có ý nghĩa. Theo mình đây là đề tài rất có ý nghĩa thực tiễn. Các em đang là người đi tuyên truyền cho cuộc vận động học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Vậy các em có suy nghĩ  gì về kết quả thực hiện nghị quyết Trung ương 4.
Thương:Thưa thầy… em nghĩ… Sau đợt tự phê bình và phê bình mỗi đảng viên đều có nhận thức đúng về việc tu dưỡng, rèn luyện và sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm của mình nên sẽ có kết quả tốt ạ.
Hoài:Em dựa vào đâu?
Thương:Dạ… thưa thầy…
Nhớ:Thưa thầy…
Hoài:Em cứ trao đổi ý kiến của mình.
Nhớ: Thưa thầy… theo em… kể ra… cũng khó, vì theo em cái quan trọng nhất là sau tự phê bình và phê bình mỗi đảng viên rút ra được điều gì và phải làm gì?
Hoài: Em nói đúng, kể ra việc nêu ra các điểm mạnh, điểm yếu trên các nội dung kiểm điểm thì ai cũng sẽ viết  ra được thậm trí viết rất hay, nhưng vấn đề là ở chỗ sau buổi sinh hoạt mỗi đảng viên phải tự nhận thấy mình phải điều chỉnh mình, sửa chữa mình như thế nào để gắn với việc thực hiện nghị quyết.
Niệm: Anh ạ, ngay cả việc làm bản tự kiểm điểm không phải tất cả mọi đảng viên đều đã nhận thức đúng đâu; đợt kiểm điểm vừa rồi vẫn có đảng viên làm bản tự kiểm điểm một cách rất hời hợt, làm cho qua chuyện, dẫn đến phải viết đi viết lại vài lần và sau đó là xác định kế hoạch tu dưỡng phấn đấu của một số đảng viên còn chung chung, thiếu cụ thể, mà việc học tập tấm gương của Bác là từ những việc làm rất cụ thể.
Hoài: Đấy! chính việc làm đó của các tổ đảng và cấp ủy là thể hiện sự nghiêm túc trong thực hiện nghị quyết; và đó cũng là biện pháp để nâng cao nhận thức, thái độ trách nhiệm của đảng viên khi thực hiện tự phê bình và phê bình gắn với học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đấy.
Thương:Dạ…thưa thầy… em cũng nghĩ vậy.
Niệm:Là đảng viên thực hiện tự phê bình và phê bình  phải gắn với việc học tập ngay cách tiếp thu sửa chữa khuyết điểm của Bác. Vì vậy để sửa chữa những khuyết điểm, hạn chế sau tự phê bình và phê bình đòi hỏi chúng ta phải thực sự nghiêm túc, mỗi đảng viên phải có kế hoạch phấn đấu tu dưỡng cho bản thân mình. đồng thời phải có niềm tin và phải có cái tâm, mà tâm thì phải sáng, trí phải bền, phê bình phải đúng người, đúng việc, và phải có lòng tự trọng có vậy mới sửa chữa được những khuyết điểm, hạn chế của mình.
Hoài:Đúng! Mỗi chúng ta phải có lòng tự trọng và phải có quyết tâm sửa chữa.
Thương:Dạ… em hiểu rồi… các thầy đã cho em thêm một bài học, bài học làm người, bài học rèn làm chính trị viên. Chắc chắn  sắp tới bọn em sẽ có thêm niềm tin và có nhiều điều  bổ ích để đưa vào nội dung đề tài của mình.
Chúng em xin hứa sẽ thường xuyên tu dưỡng bản thân để xứng danh hiệu Bộ đội cụ Hồ, xứng đáng là người chính trị viên “vừa hông, vừa chuyên”
Hoài:Hãy hứa với lòng mình trước đã các bạn trẻ ạ. Quá khứ - hiện tại - tương lai luôn vận động theo quy luật dòng chảy, Cuộc sống có hoa thơm, quả ngọt và cũng có thác, có ghềnh, đòi hỏi mình phải cố gắng học tập, tu dưỡng rèn luyện thì mới đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ mới. Vì  Hoa hồng nào cũng có gai, nếu ai sợ gai sẽ không hái được hoa hồng.
Nhớ, Thương:Chúng em  cám ơn các thầy.
Hoài: Rồi! các em làm việc với thầy Niệm đi. Chúc các em đạt kết quả tốt đề tài giáo dục đạo đức cách mạng theo tư tưởng  Hồ Chí Minh .
Nhớ, Thương:Dạ cám ơn thầy./.


Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2015

MÁI TRƯỜNG THÂN YÊU VÀ TÔI

KỶ NIỆM KHÓ QUÊN

NGUYỄN THỊ HUYỀN[*]
Là cán bộ của Công đoàn cơ sở Ban Thông tin khoa học quân sự - Trường Sĩ quan Chính trị. Mặc dù mới sinh hoạt công đoàn được 5 năm, từ 2009 - 2013, nhưng qua tìm hiểu về truyền thống, lịch sử Phong trào công nhân và công đoàn Việt Nam, công đoàn quân đội, tôi thực sự cảm thấy vô cùng tự hào và biết ơn lớp lớp thế hệ các mẹ, các anh, các chị trong tổ chức công đoàn đã góp phần to lớn vào sự thành công của cách mạng Việt Nam, đem lại cuộc sống tự do, hòa bình cho thế hệ thanh niên chúng tôi hiện nay. Tổ chức công đoàn với các phong trào thi đua như: phong trào “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”; phong trào “5 nhất, 3 không”; các hội thi, hội thao, văn hóa, văn nghệ... đã góp phần xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của các đơn vị trong toàn quân, xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”.


Chắc chắn rằng, tôi không thể kể lại cho các bạn những câu chuyện chiến thắng hùng hồn, hay xúc động đến độ lấy đi của người đọc nước mắt của đội ngũ công đoàn Việt Nam, công đoàn Quân đội những năm kháng chiến gian khổ, ác liệt. Nhưng là một đoàn viên của tổ chức Công đoàn Quân đội, đang được hưởng những thành quả tốt đẹp cha anh để lại. Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin kể một kỷ niệm trong quá trình hoạt động công đoàn thời gian qua.
Năm 2011, Công đoàn Trường Sĩ quan Chính trị tổ chức Hội thi “Cán bộ Công đoàn giỏi”, nhằm đánh giá và nâng cao kiến thức, năng lực tổ chức hoạt động công đoàn cho cán bộ công đoàn.
Ngay sau khi nhận được kế hoạch. Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở đã báo cáo lãnh đạo, chỉ huy và thống nhất đi đến quyết định chọn tôi là người tham gia Hội thi. Quả thực lúc đó tôi thực sự lo lắng, trước đó, tôi chưa bao giờ tham gia cuộc thi nào mà phải đứng trên sân khấu trước nhiều người, lại không có năng khiếu gì nổi trội. Có quá nhiều khó khăn đối với tôi. Trong thời gian đó, Cơ quan chúng tôi đang gấp rút thực hiện giai đoạn 2 của Dự án Thư viện điện tử dùng chung trong Bộ Quốc phòng. Mỗi người một nhiệm vụ, ai cũng phải làm thêm giờ, làm ngày nghỉ để kịp tiến độ. Ngoài hồi cố tài liệu, scan sách, upload lên hệ thống, tôi được giao nhiệm vụ tại phòng nghiệp vụ - là nơi mà sách, giáo trình, tài liệu được mua, nhận về để xử lý trước khi đưa ra phục vụ bạn đọc. Tôi phải vừa học vừa làm vì không được đào tạo đúng chuyên ngành. Khối lượng công việc nhiều, trong đầu tôi rối tung lên vì phải gồng mình lên để hoàn thành tốt công việc, giờ lại phải ôn luyện những nội dung về truyền thống Công đoàn Việt Nam; tổ chức Công đoàn Quân đội; nghiệp vụ công tác công đoàn và một số chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân đội có liên quan … để tham gia dự thi. Tất cả những nhiệm vụ ấy lần đầu tiên tôi đảm nhiệm nên tâm lý có phần vô cùng lo lắng. Chồng tôi lúc đó còn đang công tác ở Quân khu 9, cách xa gần 2 ngàn cây số. Không có người động viên, chia sẻ, có nhiều lúc thực sự thấy mệt mỏi.
Được lãnh đạo, chỉ huy khuyến khích, động viên tôi cố gắng hết mình tham gia Hội thi với tinh thần cao nhất. Biết tôi phải đảm nhiệm khối lượng công việc lớn, nhiệm vụ mới mẻ, vừa học vừa làm nên Cơ quan không đặt ra mục tiêu là phải đạt giải cao trong Hội thi, chỉ tham gia thi với tinh thần cao nhất, để tạo cho tôi cảm giác thoải mái, không bị áp lực. Thêm nữa, Công đoàn cơ sở chúng tôi là liên phòng, ban: Ban Thông tin KHQS, Phòng KH quân sự, Ban Khảo thí sinh và đảm bảo chất lượng giáo dục-đào tạo sinh hoạt với 9 đoàn viên, sinh hoạt phân tán, nhiệm vụ khác nhau, quân số biến động do có người đi học, người thì nghỉ chế độ, hầu hết chị em đều đang nuôi con nhỏ. Do vậy để đạt giải trong Hội thi chắc cũng là điều khó khăn.
Bước đầu tiên là xây dựng kịch bản màn chào hỏi, làm sao giới thiệu được rõ nét nhất về đặc điểm, nhiệm vụ của Công đoàn cơ sở của cả 3 đơn vị. Thế rồi, phát huy trí tuệ của tập thể, chúng tôi nghĩ đến hình ảnh Nguyên Phi Ỷ Lan nhiếp chính trong một buổi lên triều. Qua công việc các cung nữ báo cáo với Nguyên Phi, sẽ thấy được nhiệm vụ của 3 cơ quan chúng tôi mà vẫn sinh động, không cứng nhắc, khô khan. Bước đầu ý tưởng ấy giúp tất cả mọi người thấy hứng khởi. Tuy nhiên, nội dung phụ họa cho phần thi tuyên truyền cũng gây khó khăn cho chúng tôi. Ý tưởng nội dung đã bước đầu hình thành, nhưng đoàn viên ít, lại chủ yếu là chị em, thiếu nam phụ họa, nhưng lãnh đạo, chỉ huy Ban đã nhanh chóng liên hệ và nhờ học viên. Chúng tôi cảm thấy yên tâm phần nào. Đi vào tập luyện, bản thân tôi cũng thấy bắt đầu thích tham gia hoạt động phong trào hơn, mạnh dạn hơn và quyết tâm hơn. Tôi cũng tranh thủ thời gian buổi tối ở nhà chuẩn bị các nội dung trả lời câu hỏi tình huống và viết bài tuyên truyền cho phần thi năng khiếu với chủ đề: Truyền thống Công đoàn Quốc phòng. Tất cả 3 phần thi đều một mình tôi đảm nhiệm nội dung chính, các đoàn viên khác tham gia phụ họa.
Việc luyện tập có lúc cũng tạo căng thẳng cho anh chị em, người thì ý này, người thì lại ý khác; có chị buổi tập, buổi nghỉ vì lý do con ốm, con đau, các bạn học viên thì có buổi bận học, có lúc phải sinh hoạt không lên tham gia tập đầy đủ cùng với mọi người được...Tất cả những khó khăn ấy khiến cho tiến độ tập luyện rất chậm. Ngày duyệt chương trình lại sắp đến. Cả đội cứ rối tung lên khiến tôi càng thêm lo lắng cho phần thi của mình.
Tranh thủ thời gian luyện tập ngoài giờ và buổi tối, chương trình dự thi của chúng tôi cuối cùng cũng đi vào giai đoạn ổn định, mọi công tác chuẩn bị đã sẵn sàng, nội dung tôi đảm nhiệm đã thuần thục. Thủ trưởng Phòng Chính trị xuống đơn vị duyệt chương trình, đã đóng góp cho nhiều ý kiến hay, giúp hoàn thiện các phần dự thi. Chúng tôi tự thấy mình cần phải cố gắng hơn nữa.
Ngày lên sân khấu để diễn những nỗ lực tập luyện đã đến. Tham gia đêm Chung kết hôm ấy chỉ có 5 đội được tuyển chọn sau khi tham gia phần thi nhận thức, trong đó có Đội chúng tôi. Không khí sôi nổi của Hội thi, cùng với hàng ngàn khán giả là cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ trong toàn Trường khiến tôi cảm thấy hồi hộp và lo lắng. Lần đầu tiên được thể hiện trước hàng ngàn khán giả, phải lâu sau, tôi mới lấy lại được sự bình tĩnh, anh chị em cũng cổ vũ, động viên, giúp tôi thoải mái tinh thần để dự thi không vấp váp. Tiếng nhạc nền cất lên, trút bỏ hết những lo lắng, run sợ, tôi bình tĩnh, tự tin bước ra sân khấu thể hiện mình. Hàng ngàn ánh mắt hướng lên sân khấu theo dõi phần thi và cổ vũ cho tôi bằng những tràng pháo tay nồng nhiệt. Cảm xúc, trôi chảy cùng với phụ họa đẹp, sáng tạo là kết quả bù lại cho những ngày tập luyện vất vả, khắc phục khó khăn của tất cả anh chị em. Nói chung, toàn Đội cảm thấy hài lòng. Không ai nghĩ rằng mình sẽ đạt giải cao. Nhưng giờ phút thông báo kết quả chung qua cả 3 phần thi đã đưa tôi và mọi người đến một bất ngờ và hạnh phúc khôn tả. Công đoàn cơ sở Ban Thông tin KHQS đạt giải Nhất Hội thi. Anh chị em ôm nhau vui mừng nhảy múa. Tôi thay mặt Đội đứng ra sân khấu nhận giải thưởng với tâm trạng lâng lâng. Lần đầu tiên, tôi được đứng trước nhiều người như thế, tôi đã vượt qua được chính mình, thấy mình trưởng thành hơn. Chính hoạt động công đoàn đã cho tôi những điều ấy, Hội thi còn giúp tôi và mọi người cảm thấy tự hào hơn về giai cấp mình.







[*] Ban TTKHQS

TÌNH NGƯỜI THÀNH CỔ BẮC NINH



BÙI ĐỨC LONG[1]

Những cơn gió heo may đầu mùa khiến tiết trời đêm nay se lạnh, có lẽ trời đã chuyển hẳn sang thu. Tôi đang đứng gác giữa màn đêm, không gian yên tĩnh quá, dường như mọi người đã chìm sâu vào giấc ngủ, đâu đó chỉ còn tiếng lá cây xào xạc, tiếng lốp bốp của những trái bàng rơi. Không gian này dường như trái ngược hẳn với sự náo nhiệt, khẩn trương, nghiêm túc trong hoạt động ban ngày của một nhà trường quân sự. Vậy là tôi đã ở đây, là học viên của Trường Đại học Chính trị tám tháng rồi, gần một học kỳ đã trôi qua với bao kỷ niệm trong sinh hoạt, học tập và rèn luyện, vui có, buồn cũng có nhưng có lẽ đọng lại nhiều nhất trong tôi vẫn là những kỷ niệm về tình người nơi đây.

Nhớ biết bao buổi đầu tiên bỡ ngỡ đến Mái trường này; khi đó anh em chúng tôi - những học viên đầu tiên của chuyên ngành đào tạo Giáo viên giáo dục quốc phòng -  an ninh đều cảm thấy rất mệt mỏi. Sự thờ ơ biểu hiện rõ trên nét mặt nhiều người, bởi hầu hết anh em chúng tôi là những người đã có gia đình, lại đang có con nhỏ, việc đi học chủ yếu là do sự sắp xếp, phân công của cơ quan chủ quản; khi nhập học lại phải làm quen ngay với môi trường quân đội, với bao yêu cầu khắt khe về kỷ luật, tác phong. Trăm sức ép đổ dồn một lúc, khiến nhiều anh em không thể yên lòng. Nhưng rồi, những xúc cảm ban đầu đó cũng dần trôi qua, thay vào đó là những tiếng cười rộn vang trên giảng đường và thao trường nắng cháy.
Để có được không khí vui tươi, sự tự tin, niềm đam mê học tập đó của anh em học viên Giáo viên giáo dục quốc phòng - an ninh chúng tôi là cả một quá trình miệt mài lao động, gần gũi sớm hôm của các cấp lãnh đạo, chỉ huy, của cán bộ, chiến sĩ Nhà trường. Chúng tôi đã được đón tiếp, hướng dẫn, chăm lo từ nơi ăn, chốn nghỉ, tới việc học tập, rèn luyện; từ cái cặp sách, giáo trình, tập vở, cây bút rồi việc thực hiện các chế độ, kỷ luật Quân đội. Tất cả đều rất chu đáo, tỉ mỉ, ân cần. Nhưng có lẽ điều làm anh em chúng tôi cảm phục hơn cả chính là "kho" kiến thức uyên thâm, là sự nhiệt tình trong giảng dạy của đội ngũ các thầy cô giáo nơi đây. Nhớ những buổi học đầu tiên với môn học "Lịch sử truyền thống quân đội và công an", các thầy đã giảng cho chúng tôi về lịch sử hình thành và phát triển của các lực lượng vũ trang; về sự thông minh, gan dạ, về các tấm gương anh dũng trong chiến đấu, hy sinh của các thế hệ cha anh, về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam... Những kiến thức đó đã khơi dậy trong chúng tôi rất nhiều điều. Rồi dần dần qua mỗi môn học, mỗi buổi tập, mỗi ngày lên lớp chúng tôi càng ngày càng hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa, về vinh dự và trách nhiệm của người giáo viên giáo dục quốc phòng - an ninh. Chính những bài giảng của các thầy đã làm cho chúng tôi thêm yêu ngành học này và yên tâm với công việc trong tương lai. Sẽ là thiếu sót nếu như không nhắc tới sự chăm lo về đời sống chính trị - tinh thần của các cấp lãnh đạo trong Nhà trường cho anh em học viên nói chung và học viên Giáo viên giáo dục quốc phòng - an ninh nói riêng. Ở đây ngoài việc hàng ngày được đọc báo, xem thời sự thì hàng tháng, hàng tuần chúng tôi vẫn đều đặn được nghe nói chuyện về tình hình chính trị trong và ngoài nước, được xem phim, xem văn công, xem các buổi biểu diễn văn nghệ. Các hoạt động này đã cho chúng tôi niềm tin vào công việc và cuộc sống, làm cho tinh thần chúng tôi ngày càng thoải mái và phần nào vơi đi nỗi nhớ quê hương.
Giờ đây, sau gần tám tháng học tập, chúng tôi đã mang trong mình tinh thần của những người chiến sĩ, biết vượt qua gian nan, vất vả, biết đồng cam, cộng khổ và sẵn sàng chiến đấu, hy sinh. Đúng lúc này thì nhiệm vụ học tập của học kỳ I cũng gần hoàn thành, chúng tôi sắp phải tạm xa các thầy, các cô, xa Mái trường dấu yêu để trở về địa phương công tác. Dù ở nơi đâu, trong bất kỳ công việc nào chúng tôi cũng luôn nhớ về Thành cổ Bắc Ninh, về tình người nơi mái trường Sĩ quan Chính trị.

Bắc Ninh, tháng 10 n



[1] Hệ 4

TÌM HIỂU VẺ ĐẸP CỦA NGƯỜI THÀY QUA CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM



Trong kho tàng văn học Việt nam, ca dao, tục ngữ luôn được tồn tại, gắn liền với đời sống nhân dân từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bởi ca dao, tục ngữ là tiếng nói chứa đựng những suy nghĩ, nơi kết tinh, lắng đọng những tâm tư, tình cảm cùng những kinh nghiệm quý báu với muôn màu sắc trong đời sống xã hội của nhân dân. Tìm hiểu về ca dao, tục ngữ Việt nam, ta còn bắt gặp hình ảnh người thày giáo với bao vẻ đẹp thật đáng tự hào và trân trọng.                                                                                            

Nói đến việc học và đạo lý thày trò, ca dao, tục tục ngữ thể hiện bằng tình cảm, sự kính trọng, lòng biết ơn của lớp lớp thế hệ học trò giành cho người thầy và lưu giữ suốt chiều dài lịch sử dân tộc: “Muốn sang thì bắc cầu Kiều/Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy”… Bởi vậy, từ xa xưa, dù khó khăn đến mấy thì người dân Việt Nam  vẫn có gắng cho con em mình đi học với quan niệm: “Không thầy đố mày làm nên” để được “làm người”. “Làm người” với mong muốn trước tự giúp cho cuộc đời mình khỏi cơ cực, sau giúp ích cho quê hương, đất nước...
Đối với mỗi người học, để tiếp thu được kho tàng tri thức vô cùng phong phú của nhân loại, dù bằng nhiều mục đích, phương pháp khác nhau, song đều gặp nhau ở chỗ là họ luôn cần đến sự định hướng, dắt dìu của người thầy trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Do đó, những ước nguyện của mỗi người học cũng đều được thể hiện rất rõ qua từng câu trong ca dao, tục ngữ: "Mấy ai là kẻ không thầy/ Thế gian thường nói đố mày làm nên". Vì vậy, khi được thày dạy dỗ, tất cả đều có cùng sự tôn trọng với người dạy mình: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (một chữ cùng là thày, nửa chữ cùng là thày), bởi “Một bụng chữ còn hơn hũ vàng”... luôn là triết lý giáo dục trong cuộc sống của nhân dân ta.
Chúng ta đều biết, mỗi người từ khi sinh ra đến lúc trưởng thành, luôn được chăm sóc, dạy dỗ bởi bàn tay, tấm lòng thương yêu, đùm bọc và bao la của nhiều người theo bước đi của thời gian. Khi còn nhỏ, ta chịu ơn nghĩa sinh thành, nuôi dưỡng “như nước trong nguồn” không ngừng tuôn chảy của mẹ, cao "như núi Thái Sơn" của cha.. Rồi khi lớn lên, cắp sách tới trường, thì chính thày là người dìu dắt, dạy dỗ cho ta:"Mẹ cha công sức sinh thành/ Ra trường thầy dạy học hành cho hay", nên ca dao, tục ngữ cũng khuyên: "Công cha, áo mẹ, chữ thầy/ Gắng công mà học có ngày thành danh"...
Không những thế, trong ca dao, tục ngữ còn là lời hứa hẹn của các thế hệ học trò về sự "đền ơn đáp nghĩa" nếu thành đạt: "Bao giờ anh chiếm bảng vàng/ Ơn thầy ta trả, nghĩa nàng nào vong", hoặc:“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây/ Có danh, có vọng nhớ thày khi xưa”... Song cũng phê phán những thói hư, tật xấu, những người quay lưng lại với người đã dìu dắt, dạy dỗ mình: "Yêu kính thầy mới được làm thầy/ Những phường bội bạc sau này ra chi"...
Có thể nói, ca dao, tục ngữ Việt Nam được thể hiện vô cùng phong phú về nét đẹp và lòng kính trọng của xã hội nói chung và lứa tuổi còn đang ngồi trên ghế nhà trường nói riêng với người thày, nó không chỉ thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người, mà đó còn là lòng biết ơn của toàn thể xã hội với những người làm nghề dạy học. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử; là thể hiện tinh thần hiếu học, ham học hỏi, cầu tiến bộ để góp phần xây dựng gia đình, quê hương, đất nước thêm giàu đẹp; là đạo lý ngàn đời răn dạy mỗi người phải sống có hiếu với cha, với mẹ, sống có nghĩa đối với người đã dạy cho mình những nét chữ đầu tiên. Chính vì vậy, quan niệm thầy, trò đã trở thành thứ tình nghĩa cao cả, thiêng liêng trải dải suốt bao đời nay, kết nối thành một sợi dây, tạo nên truyền thống đẹp đẽ của dân tộc là “Tôn sư trọng đạo”.
Ngày nay, trước sự phát triển của đất nước, bên cạnh những tiến bộ đã đạt được trong công tác giáo dục, đào tạo thì những tác động của mặt trái cơ chế thị trường cũng len lỏi vào các nhà trường. Điều đó đã làm cho không ít người thày vì lợi ích cá nhân mà quên đi đạo lý “Dạy chữ, dạy người và dạy nghề”. Tình trạng suy thoái đạo đức và phẩm chất của một số thầy cô giáo đã  làm giảm sút niềm tin của nhân dân, không xứng đáng với những gì xã hội tin cậy, gửi gắm, song đó chỉ là những hiện tượng còn tồn tại ở một số rất ít thày cô giáo. Bởi đi bất cứ đâu, chúng ta vẫn bắt gặp những hình ảnh vô cùng đẹp đẽ và cao cả của bao thày giáo, cô giáo luôn tận tuỵ với công việc, hết lòng thương yêu, giúp đỡ học sinh. Đó là hình ảnh những người thầy, người cô ngồi kề ô cửa, tối tối bên ánh điện bàn say mê, đắm mình vào trang giáo án với mong mỏi ngày mai trên bục giảng sẽ đem đến cho học trò nhiều điều bổ ích và lý thú. Vẫn còn hiện lên sáng ngời những thày cô kiên trì thắp lửa, truyền đạt tri thức, sưởi ấm tâm hồn thế hệ tương lai với nghĩa cử cao đẹp “tất cả vì học sinh thân yêu”. Nhiều thầy, cô giáo dẫu tuổi đời còn rất trẻ song không quản ngại nắng mưa, tình nguyện “cõng chữ lên non”, mang ánh sáng của con chữ đến với học sinh và kiến thức xây dựng kinh tế đến đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo giúp họ vượt lên rào cản hủ tục, thoát khỏi cái nghèo, cái đói. Không ít các thế hệ thày cô đã cống hiến và gắn bó cả quãng đời thanh xuân của mình ở vùng biên giới, hải đảo xa xôi và đã trở thành “hoa của núi rừng!”.
Vinh dự, tự hào về nét đẹp của người thày cùng sự kính trọng của nhân dân suốt chiều dài lịch sử, mỗi thày cô giáo đứng trên bục giảng hôm nay càng phải thấy mình cần có trách nhiệm lớn hơn, nặng nề hơn với sự nghiệp ”trồng người”. Vì vậy, mỗi lời nói và hành động của các thầy, cô giáo phải luôn chuẩn mực, mãi mãi là tấm gương sáng để mọi thế hệ học trò học tập, noi theo, và để xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội: “Dưới ánh sáng mặt trời không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học”.
Lê Quang Thà
Khoa Công tác đảng, công tác chín